

| Các thao tác chuẩn bị máy in |
|
|
Các thao tác chuẩn bị máy in
Trách nhiệm của từng thành viên trong một nhóm thợ in phải khác nhau trong suốt quá trình chuẩn bị máy tuỳ theo công việc in cụ thể. Để việc chuẩn bị máy đạt hiệu quả cao thì các vật liệu in cho công việc in kế tiếp phải được chuẩn bị sẵn sàng đâu vào đó khi công việc in trước đó vừa kết thúc. Việc chuẩn bị chu đáo cho quá trình chuẩn bị máy nghĩa là phải có các vật liệu cần thiết tại các đơn vị in tại thời điểm cần thiết. Các bản in nên chuẩn bị sẵn sàng và kiểm tra trước, các tấm cao su phải được bố trí sắp đặt để khi cần có thể lấy ra và lắp trên ống cao su, chuẩn bị sẵn các tờ bọc lót đã được đo và cắt xén phù hợp để bọc các ống cao su. Giấy in, mực in và dung dịch làm ẩm cũng nên được kiểm tra lại và chuẩn bị sẵn sàng. Nếu có nhu cầu cần thay đổi một màu in nào đó thì các chất tẩy rửa nên được chuẩn bị sẵn tại máy in. Để việc chuẩn bị máy in có hiệu quả là người thợ in phải nắm rõ công việc của mình và có sự phối hợp với nhau trong suốt quá trình in theo trách nhiệm đã được phân công. Trách nhiệm này thuộc về người trưởng máy, người phải biết cách tổ chức và giám sát đội ngũ của mình. Mỗi người thợ khi được tổ chức phân công tốt sẽ biết họ phải làm gì và làm điều đó vào lúc nào. Ví dụ, hai người thợ in có thể làm nhiệm vụ thay bản và tấm cao su, nhưng công việc chỉ hiệu quả khi một người thợ làm chính và một người phụ trên từng đơn vị in. Trong suốt quá trình chuẩn bị máy cần phải tốn một số tờ in để chạy thử, do đó không thể giảm các tờ in thử xuống tới mức thấp nhất để hoàn tất gấp rút việc chuẩn bị máy in. Và trong suốt quá trình chuẩn bị máy in, máy in được chạy ở vận tốc được thiết lập từ trước, ví dụ như khoảng 6000 tờ/giờ. Khi bắt đầu in sản lượng thì vận tốc in sẽ được tăng lên tới vận tốc khoảng 2/3 tốc độ tối đa và tăng dần khi cần thiết, để đảm bảo cho máy có độ bền cao người ta chỉ chạy khoảng ¾ tốc độ tối đa. 1. Các cách chUẨn bị máy in Quá trình chuẩn bị máy có thể được chia làm ba cách: chuẩn bị máy ở mức đơn giản, chuẩn bị máy cục bộ và chuẩn bị máy lại toàn bộ. Việc chuẩn bị máy đơn giản thường được thực hiện trên các máy in một màu dùng để in sách và các mẫu biểu. Công việc chỉ bao gồm việc thay bản, mực in còn lại trên máng; canh chỉnh lô máng mực và hệ thống làm ẩm; thay đổi khổ giấy … Việc chuẩn bị máy in cục bộ xảy ra trên các máy in một màu và hai màu dùng để in 4 màu. Sau khi in xong hai màu đầu tiên máy in được dừng lại và rửa sạch các hệ thống cấp mực; lắp các bản in mới lên; các tấm cao su và các tờ bọc ống có thể được giữ nguyên. Các tờ in ở bàn ra giấy được lấy ra và đưa vào bàn nạp giấy, các thông số về tay kê ở bàn nạp giấy hoặc ra giấy không cần phải thiết lập lại. Sau khi rửa xong hệ thống cấp mực thì cho mực in mới lên máng mực và canh lại cho màu in mới. Cách thường được áp dụng nhiều nhất là chuẩn bị máy in một cách toàn bộ từ đầu đến cuối, bao gồm tất cả các bước cần thiết để bắt đầu cho một công việc in mới hoàn toàn. Tiến hành rửa máy toàn bộ đối với máy in một màu và hai màu; nếu in trên máy in 4 màu cũng sử dụng lại chính 4 màu in trước và không cần phải rửa hệ thống cấp mực tại các đơn vị in. Việc rửa máy hay rửa hệ thống cấp mực thường dựa vào công việc in trước đó. Bản in và các tờ bọc ống được thay đổi và tiến hành lau sạch bề mặt tấm cao su. Các thông số thiết lập cho bàn nạp giấy, các tay kê và bàn ra giấy thường được thay đổi. 2. Các thao tác trong chuẩn bị máy Các bước tiến hành trong quá trình chuẩn bị máy in thường phụ thuộc lớn vào các thông số thiết lập sẵn của những người vận hành máy in. Tuy nhiên, nên tuân thủ một qui trình chuẩn bị đã được thiết lập sẵn. Việc chuẩn bị máy in tốt sẽ giúp giảm thời gian dừng máy giữa chừng và tăng năng suất in. Bên cạnh đó cần phải áp dụng chế độ bảo trì thích hợp, kiểm tra chính xác các công đoạn trước in, kết hợp với việc giảm thời gian dừng do nhưng nguyên nhân khách quan khác như lỗi vật liệu hoặc lỗi do kế hoạch sản xuất. Có nhiều phương pháp làm giảm thời gian dừng máy in nhưng cách tốt nhất vẫn là phối hợp hiệu quả giữa các người thợ in trong cùng một ca. Cần phải xem việc chuẩn bị in giống như điểm dừng tiếp nhiên liệu của cuộc đua xe thể thao Công thức 1. Việc chuẩn bị máy bao gồm các bước sau:
Từ bước 9 đến bước 11 cần được lặp đi lặp lại cho đến khi in được một tờ in có chất lượng mà khách hàng chấp nhận. Tờ in đó thường được gọi là tờ in chuẩn. Trước khi bắt đầu chuẩn bị cho lần chạy máy kế tiếp, giấy in của công việc in trước được lấy ra khỏi bàn ra giấy, các bản in được lấy ra và được cất giữ để có thể dùng đến sau này. Các tấm cao su bị hỏng thì cũng cần phải được thay mới. Nếu có thay màu in thì phải rửa lại hệ thống cấp mực và cũng có thể rửa luôn cả hệ thống làm ẩm. 2.1 Rửa hệ thống cấp mực. Bước đầu tiến trong việc rửa hệ thống cấp mực là lấy hết mực in không còn in ra khỏi máng mực. Người thợ in sẽ dùng một con dao mực cẩn thận lấy mực in ra khỏi máy. Nếu mực in đã để trên máng vài tiếng đồng hồ thì nên bỏ luôn. Lưu ý: sử dụng một con dao mực bằng nhựa plastic thay vì bằng kim loại khi lấy mực in ra khỏi máy trong hệ thống cấp mực tự động.Dùng bộ phận tự động rửa hệ thống cấp mực là cách nhanh nhất để lấy mực in ra khỏi lô. Khi rửa hệ thống mực, cần sử dụng các dung môi thích hợp. Thông thường, việc rửa hệ thống cấp mực còn sử dụng hai loại dung môi. Dung môi thứ nhất là dung môi hoà tan được với nước để loại bỏ các chất dơ, keo và các chất thay thế cồn, dung môi thứ hai dùng để rửa sạch dung môi thứ nhất, để không còn dung môi còn lại nào bám trên các lô mực. Nên chú ý đặc biệt đến hai đầu lô vì đây là nơi mực in sẽ tích tụ và đóng thành lớp trong suốt quá trình chạy máy. Chú ý: không được lau chùi hai đầu lô hay bất kỳ chỗ nào của hệ thống cấp mực bằng tay trong khi đang chạy máy. Nếu rửa thật sạch hệ thống cấp mực thì có thể dùng máng mực lúc trước in màu đen để in màu vàng mà không xảy ra vấn đề gì trong việc nhiễm mực in trước đó. Nhà sản xuất lô mực sẽ khuyến cáo sử dụng các dung dịch rửa lô thứ hai nào là phù hợp với sản phẩm của họ. Kiểm tra để đảm bảo rằng nhà sản xuất lô cung cấp một tờ ghi các dữ liệu an toàn cho vật liệu (MSDS) với mỗi dung dịch hoá chất được dùng; một tờ MSDS sẽ cung cấp thông tin chi tiết về việc sử dụng các hoá chất, xử lý pha hoá chất và lưu trữ.
![]()
2.2 Rửa hệ thống làm ẩm. Thông thường, các dung môi mực không được sử dụng để chùi rửa hệ thống làm ẩm, tuy nhiên trên các hệ thống lô cồn mới ta có thể dùng dung môi này để lau các lô làm ẩm và rửa lại bằng cồn. Đối với hệ thống làm ẩm bằng nước dùng lô nỉ, các lô nỉ có khả năng thấm hút các dung môi mực nên phải được chùi rửa bằng các chất tẩy rửa thích hợp, sau đó được rửa sạch lại toàn bộ. Việc thay các lô nỉ làm mất rất nhiều thời gian mà người thợ in sẽ phải canh chỉnh lại. Các lô bị dơ có thể được giặt sạch và thay đổi trong suốt quá trình chạy máy. Các lớp phủ bọc ni phải được gắn vào một cách cẩn thận. Lớp nỷ bọc nên có độ chặt đồng đều dọc theo chiều dài lô và lớp bọc đều ở hai đầu lô phải hơi dư một chút, và khi xiết lại thì hai đầu lô phải phẳng đều không bị lỏng dây. Mỗi lần lấy một lô nào đó ra khỏi máy in thì khi lắp lại vào máy phải theo đúng hướng của hai đầu lô lúc lấy ra. Nếu đảo hai đầu lô sẽ làm tờ in bị cuộn tròn hay lớp phủ bằng ni sẽ bị trượt. 2.3 Chuẩn bị bản in để cất giữ. Với một vài loại bản in, khi máy in dừng lại lâu hơn một vài phút thì cần phải được lau keo (ở phần này, cụm từ “keo” có liên quan đến chất tráng phủ - một phần đặc tính hoá học của bản in, có thể là gôm arabic hay một chất khác tương đương) nhà sản xuất bản in có thể khuyến cáo sử dụng các chất phù hợp cho việc lau chùi và bảo dưỡng bản in. Chỉ nên sử dụng chất phủ bản được nhà sản xuất khuyến cáo. Ví dụ: nếu dùng keo axít gốc nhựa đường (AGF) có thể gây ra hiện tượng mất phần tử in trên bản. Một lớp keo mỏng được sản xuất để phủ bề mặt bản in để chống lại sự oxi hoá có thể dẫn đến hiện tượng bắt mực tại những phần tử không in trên bản. Một bản in được lau keo sẽ dễ in nhanh hơn là bản in chưa được lau keo. Phủ keo để bảo vệ bản in trong khi vẫn còn gắn trên ống bản là việc làm khó khăn vì bị hạn chế không gian làm việc do đó cần phủ nhanh một lớp keo lên bản in còn đang được lắp trên ống bản, sau đó người thợ in có thể hoàn tất việc phủ keo cho bản in bằng cách đặt bản in lên trên một bàn làm việc lớn hơn và lau keo kỹ lại. Thông thường, một bản in đã lắp trên máy trước tiên sẽ được lau bằng một miếng bông đá đã được thấm ướt keo trong một dung dịch pha với nước. Sau đó toàn bộ bề mặt bản in nên lau đều bằng một miếng vải mềm đã được thấm ướt. Khi lau bản in bằng một lượng keo hợp lý thì sẽ không ảnh hưởng đến các phần tử in trên bản vẫn còn đang dính mực. Khi lau keo quá nhiều thì keo sẽ dính vào phần tử in như một lớp phủ dày lên đó và trở nên không thấm hút dung môi và xảy ra hiện tượng mất phần tử in do lau keo quá nhiều. Khi để keo khô thành một lớp mỏng và đều thì bề mặt bản in được lau bằng một dung môi hoà tan để lột lớp mực ra khỏi phần tử in và dùng giấy phủ bản in lại để không bị trầy xướt. 2.4 Chuẩn bị bài mẫu Bài mẫu, bản in, giấy và mực in cần được kiểm tra đối chiếu với kế hoạch sản xuất, nếu có bất kỳ sự khác biệt nào trưởng máy phải báo ngay cho bộ phận giám sát in. Thông thường việc kiểm tra này đuợc tiến hành trước khi kết thúc công việc in trước đó như là một phần của khâu chuẩn bị trước in.
2.5 Xử lý cơ học việc vận chuyển tờ in Thiết lập các thông số cho việc vận hành tờ in là một quá trình mất nhiều thời gian. Nếu phải thay đổi độ dày và khổ giấy in thì tất cả các thông số thiết lập phải được chỉnh lại tuỳ theo từng công việc in. Một số máy in thế hệ mới có các thiết bị canh chỉnh tự động tờ in. Dưới đây là mô tả các bước thường được tiến hành trong việc canh chỉnh, vận hành tờ in trên máy in khi thay đổi giấy in. 1. Đặt bàn nạp giấy và giấy in vào đúng vị trí trên máy. 2. Canh chỉnh các bộ phận của đơn vị tách tờ in như thiết bị điều chỉnh độ cao chồng giấy, các miếng chặn mép giấy, các chổi lông tách giấy và các lưỡi gà, các đầu hút đuôi giấy, các đầu hút đá giấy và các đầu thổi khí. 3. Canh chỉnh các bộ phận trên bàn xuống giấy: các lô đá giấy, bộ phận kiểm tra đúp giấy, các bộ phận vận chuyển tờ in đến các tay kê đầu như các lô dằn, các dây băng truyền và bánh xe chổi lông, các bộ phận hút chân không và các thiết bị kiểm tra sự xuống sớm hay xuống trễ của tờ in. 4. Canh chỉnh các tay kê đầu và các tay kê hông. 5. Thiết lập các nhíp bắt giấy và điểm dừng của ống ép. Nếu cấn thiết sẽ bù vào việc tờ in bị giãn ở đuôi giấy trên máy theo các sự chỉ dẫn của nhà sản xuất máy in. 6. Thiết lập áp lực của ống ép phù hợp với độ dày của vật liệu in. 7. Cho một tờ in đi qua máy để thiết lập các thanh vỗ, là các thiết bị hỗ trợ cho việc ra giấy và thời gian để mở miệng nhíp. Các bước này cần được lập đi lập lại đến khi tờ in đi qua máy một cách ổn định. Những canh chỉnh bổ sung thứ yếu cho tay kê hông và bàn nạp giấy cần thiết cho việc canh chồng màu sau này. 2.6 Lắp bản in Các bước để lắp bản in đều khác nhau, phụ thuộc vào khổ máy in và máy in có hay không có trang bị bộ phận lên bản tự động hoặc bán tự động. Trong nhiều trường hợp, người thợ in sẽ đưa bản in đưa cho một người khác đang đứng giữa các đơn vị in để lên bản. Không có nguyên tắc gì được áp dụng vì tất cả các người thợ in cần phải biết cách sử dụng an toàn trong khi điều khiển nhấp máy để lên bản in.
![]() Thay bản thủ công trên các máy in đời cũ
Các thao tác cơ bản nên tuân thủ quy trình dưới đây:
Các bước cơ bản của việc canh chỉnh bản in (bắn bản) như sau:
Có 3 điều này cần lưu ý khi lắp bản in là:
Lên bản in tự động. Trong những năm gần đây, các nhà sản xuất máy in đã trang bị trên các máy in thiết bị lên bản tự động hoặc bán tự động. Việc sử dụng một cách chính xác thiết bị lên bản này có liên quan đến các mức độ tự động hoá khác nhau của các thiết bị, tuỳ thuộc vào các nhà sản xuất máy in. Do đó cần phải tham khảo sự hướng dẫn trong việc vận hành cụ thể từng thiết bị. Các bước cơ bản khi vận hành một hệ thống lên bản tự động là:
Không phải lúc nào cũng cần thay tấm cao su và tờ bọc ống trong quá trình chuẩn bị máy. Đối với công việc in 4 màu số lượng lớn va đòi hỏi chất lượng cao thì nên thay cao su khi phát hiện có tấm cao su đã bị hỏng, nếu không sẽ mất rất nhiều thời gian cho việc thay cao su mới.
![]() Hệ thống thay bản tự động bằng Robot của Manroland (Hệ thống APL)
2.7 Chuẩn bị thay tấm cao su mới (nếu cần thiết) Tấm cao su bị dính mực in cần phải được lau sạch sẽ bề mặt để không còn bám mực. Nếu có nhiều lỗ nhỏ trên bề mặt tấm cao su thì phải thay tấm cao su khác. Dưới đây là các bước thay tấm cao su mới:
2.8 Chuẩn bị cho hệ thống làm ẩm Dưới đây là qui trình chuẩn bị hệ thống làm ẩm truyền thống trong suốt quá trình chuẩn bị máy. Tuỳ thuộc vào từng loại hệ thống làm ẩm mà có các bước chuẩn bị khác nhau:
Một hệ thống làm ẩm liên tục là một hệ thống đặc trưng cho việc làm ẩm bản có thể bao gồm các bước dưới đây. Tuy nhiên do việc chuẩn bị trên mỗi hệ thống làm ẩm giữa các nhà sản xuất cũng khác nhau nên phải tham khảo các chỉ dẫn của nhà sản xuất:
2.9 Chuẩn bị cho hệ thống cấp mực Việc cấp mực, bảo quản và thao tác vận hành cơ bản bao gồm các bước sau:
2.10. Chuẩn bị giấy in thử Giấy in thử bao gồm cả giấy in trước đó và giấy chưa in. Tỷ lệ giữa các tờ chưa in và tờ in rồi thường là 1:5. Các tờ đã in phải được cắt theo đúng kích thước với tờ chưa in. Cứ mỗi 50 tờ in rồi ta chèn vào 10 tờ chưa in. Và xấp giấy in thử sau cùng phải có khoảng 100 tờ, số lượng in thử sẽ phụ thuộc vào mức độ phức tạp khác nhau của khâu chuẩn bị in. Sau đó xấp giấy in thử sẽ đưa lên bàn nạp giấy. Sau khi qua các bước trên, người thợ in sẽ thử áp lực in. Việc tạo áp lực in bao gồm các bước cơ bản sau:
2.11 In các tờ in thử Các tờ in được kiểm tra trên bề mặt phẳng và hơi dốc. Theo tiêu chuẩn ANSI PH2.30-1989 về các điều kiện quan sát các ấn phẩm in màu, phim trong và phục chế quang cơ quy định ánh sáng của đèn chiếu trong phòng quan sát phải là 5000 độ K và bất kỳ bề mặt quan sát xung quanh trong phòng phải là màu xám trung tính (Munsell N8/). Việc trợ giúp cho các điều kiện quan sát bài mẫu do GATF đưa ra được trình bày rất chi tiết. Các tờ in thử được khảo sát theo các tiêu chí sau đây: - Vị trí hình ảnh và sự chồng màu trên tờ in. - Chất lượng của tờ in. - Cân bằng mực nước. - Màu sắc của tờ in. Điều quan tâm chính cho việc kiểm tra tờ in đầu tiên là tình trạng của hình ảnh được in vì hệ thống cấp mực và hệ thống làm ẩm chưa chắc đã đạt trạng thái cân bằng. Tờ in đầu tiên được kiểm tra về vị trí của phần tử in. Nếu chỉ có một màu xuất hiện trên tờ in này thì hình ảnh đã được định vị trên giấy in. Bảo đảm rằng hình ảnh phải đặt ở vị trí chính xác và vuông góc với cạnh của tờ in. Nếu vị trí của phần tử in bị lệch sang một bên thì điều chỉnh lại tay kê hông và vị trí của chồng giấy in. Nếu hình ảnh in bị lệch về phía trước hay cách xa cạnh bắt nhíp thì điều chỉnh ống bản một cách tương ứng. Nếu in trên máy nhiều màu, tất cả các màu in được in ra cùng một lúc trên tờ in thử đầu tiên phải được chồng khít lên nhau, giữa màu này với màu kia trên tờ in.
![]() Kiểm tra tờ in bằng kính lúp
Khảo sát các tờ in thử. Khi chỉ in một màu trên tờ in thử đầu tiên, sau đó in một hay nhiều màu in lên tờ in thử kế tiếp thì các màu in sau phải chồng khít vào màu đầu tiên. Tay kê hông có thể không cần điều chỉnh cách xa hơn để chỉnh chồng màu chính xác. Do đó, tất cả sự thay đổi vị trí được tạo ra do sự dịch chuyển các ống ép hay bản in nếu hình ảnh in ra không vuông góc với hình ảnh in khác trước đó. Có thể chuyển sự bọc ống từ ống bản sang ống cao su để chồng khít màu in nếu độ dài hình ảnh in bị thay đổi.
Chất lượng của tờ in. Chất lượng của tờ in ngay sau các tờ in thử chưa chắc là chính xác. Hai khuyết điểm chính ảnh hưởng đến chất lượng tờ in có thể nhận ra từ các tờ in thử này, một là hiện tượng tờ in non mực là do việc cung cấp dung dịch làm ẩm quá nhiều hoặc cấp mực thiếu và hai là tờ in bị đẫm mực do cấp mực quá mức. Các vấn đề khác ảnh hưởng đến chất lượng tờ in bao gồm hiện tượng nhiễm mực và bít các hạt tram, hiện tượng tờ in xuất hiện các đốm mực nhỏ, các tờ in nổi hạt (sần), các tờ in bị dính vào các tấm cao su và các tờ in bị cong quá mức trên chồng giấy in ra. Hầu hết các vấn đề này đều do làm ẩm không đúng. Do đó, người thợ in phải nhận ra được nguyên nhân chính và điều chỉnh thích hợp cho hệ thống cấp và làm ẩm, trong khi đang cố gắng đạt được sự cân bằng mực nước ở tình trạng thấp nhất có thể được. Khi phần tử in không truyền chính xác từ tấm cao su lên giấy in do áp lực quá lớn giữa ống cao su và ống ép, cần phải kiểm tra và điều chỉnh lại áp lực cần thiết.
Màu sắc của tờ in. Khi bắt đầu nhận được các bản in đạt chất lượng thì người thợ in phải điều chỉnh hệ thống cấp mực cho đến khi in no màu. Tờ in phải được quan sát dưới những điều kiện ánh sáng chuẩn (5000K). Bản in thử đã được ký bông kèm theo từng công việc in ấn sẽ giúp cho người thợ in dựa vào đó mà canh chỉnh hệ thống cấp mực. Một tờ in thử được đưa ra không phù hợp thì sẽ có khả năng không in được trên máy in offset. Tất cả các bài in nhiều màu nên có một thang kiểm tra màu in như thang kiểm tra cho 6 màu chồng mà GATF đề ra được in trên vùng được bố trí dọc theo đuôi của tờ in. Người thợ dùng một máy đo mật độ cầm tay hoặc một thiết bị quét kiểm tra mật độ để xác định mật độ của những ô in màu cơ bản tông nguyên. Các ô in tông nguyên có chồng hai và ba màu lên đó có thể được sử dụng để kiểm tra sự truyền mực của tờ in sau chồng lên màu in trước. Nhiều nhà in đã đặt ra cho mình một tiêu chuẩn về mật độ của màu mực in cơ bản như vàng: 0,95±0,05; đỏ cánh sen: 1,30±0,05; xanh cyan: 1,30±0,05 và đen: 1,60±0,10 khi in trên một loại giấy tráng phấn. (Các mật độ màu được xác định bằng một thiết bị đo mật độ không nên được áp dụng chung cho tất cả các máy in và cho tất cả các thông số trong việc canh chỉnh mực). Việc canh chỉnh mực dựa vào các giá trị đo mật độ mực để có thể canh chỉnh mực tốt và ổn định nhanh nhất khi chỉ cần một vài tờ in ban đầu trên máy. Khi máy in có thiết bị quét mật độ tờ in được kiểm soát bằng vi tính hoặc thiết bị quét bản thì mật độ tờ in nhanh chóng đạt đến mức ổn định hơn bởi vì các thiết bị này sẽ chỉ định ra lượng mực tương ứng cần thiết dọc theo tờ in. Do sự phân bố mực in dọc theo chiều ngang của tờ in có sự khác biệt nhau nên các vít chỉnh mực cũng được chỉnh cho phù hợp với lượng mực cần thiết. Ngoài ra, người thợ in phải mở các vít mực tại những phần tử in cần thêm mực và đóng lại tại những phần tử in cần ít mực. Một biểu đồ của việc cấp mực dọc theo tờ in sẽ có những điểm có toạ độ cao (cho biết những vùng in đó cần cấp nhiều mực) và những điểm có toạ độ thấp (cho biết những vùng in đó cần ít mực hơn hoặc không cấp mực tại đó như những khu vực không có phần tử in trên tờ in).
![]() Xòe nhiều tờ in theo hình rẽ quạt để kiểm tra in đồng nhất màu sắc trên tất cả các tờ in
Các vị trí đánh dấu tay kê hông. Một vị trí đánh dấu của tay kê hông gồm một loạt các đường kẻ thẳng theo chiều dọc và chiều ngang của cạnh bắt nhíp của tờ in khoảng 150 mm nhằm giúp cho người thợ in có thể đẩy các tờ in về vị trí cần thiết nếu tay kê hông hoạt động không chính xác, hay kéo quá nhiều quá hoặc ít quá. Nếu đường theo chiều dọc nằm theo cạnh của tờ in thì tay kê hông hoạt động chính xác. Nếu đường thẳng nằm vào trong mép giấy một chút thì tay kê kéo giấy hơi nhiều. Nếu đường thẳng bị mất hoàn toàn thì tay kê không kéo giấy chính xác. Đường thẳng theo chiều ngang của dấu kiểm tra ở tay kê hông cho phép người thợ in kiểm tra tính ổn định của bon chồng màu dạng hình tròn (từ cạnh bắt nhíp đến đuôi tờ in). Một đường thẳng nằm ngang tương tự được đặt vào vị trí đối diện bên kia của tờ in để theo dõi sự chồng màu từ cạnh bắt nhíp đến đuôi tờ in ở phía bên trên của tờ in. Bất kỳ một sự chồng màu không chính xác nào cũng có thể gây ra do các tờ in nảy lên khỏi các tay kê đầu, sẽ được thấy như một đường bị răng cưa. Thông thường, dấu kiểm tra của một tay kê hông được gắn vào thêm cho bản in trong quá trình ghi bản. Tuy nhiên nếu thấy cần thiết, người thợ in có thể kẻ thêm một dấu kiểm tra cho tay kê hông trên bản in sau khi hoàn tất việc chuẩn bị máy. GATF đã đưa ra một chuẩn cho việc đánh dấu kiểm tra của tay kê hông trong các dấu kiểm tra dùng để kiểm soát hình ảnh in, nó có dạng như một miếng phim âm hay một miếng phim dương. Dấu kiểm tra là một đường thẳng dọc dài 22mm và một đường thẳng nằm ngang dài 5mm. Trong quá trình bình phim, dấu kiểm tra này được gắn lên hàng ngang cùng với dấu định vị chính (các điểm mốc của tờ in) sao cho các dấu này được đặt ở mép cạnh của tờ in và sau đó đem đi phơi bản. Trong suốt quá trình chuẩn bị máy, người thợ in phải điều chỉnh tay kê hông cho đến khi dấu kiểm tra theo chiều dọc đặt ở vị trí trên mép của tờ in một nửa của dấu kiểm tra này bị lọt ra ngoài. Khi vỗ một vài tờ in trên một mặt phẳng vuông góc và tiếp sau là tách các tờ in ra người thợ in sẽ xác định xem tay kê hông đã hoạt động chính xác chưa. Nếu trên bản in có một dấu kiểm tra bên tay kê hông thì có thể vẽ lên trên bản in. Qui trình dươi đây cho phép đặt dấu kiểm tra đó lên bản in:
Một cách khác cũng thường được sử dụng để đặt dấu kiểm tra lên bản in là:
Vietnamprint (Nguồn: Tiến sĩ Ngô Anh Tuấn - Trưởng Khoa In & Truyền thông/ Tổng biên tập Tạp chí In và truyền thông) www.congtyinvietnam.com.vn
|